Nguồn gốc & nền tảng Kinh Dịch
Bói toán có nguồn gốc từ các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Hy Lạp, Ai Cập… Tại thời cổ còn bộ lạc xã hội nô lệ của Trung Quốc cách đây khoảng 4000 năm, con người đã tìm hiểu sâu về mối quan hệ giửa số phận nhân loại và trời đất ra sao, ban đầu chỉ tập trung vào lỉnh vực chiêm đồng, xin xăm, xuất hiên trong nghi lệ của tôn giáo. Sau đời đến ông Phục Hy phát minh được Tiên thiên Bát quái, vận dụng bát quái đễ xem hiện tượng ý của ông trời đễ luận sự việc. Đến triệu đại nhà Châu cách đây khoảng 3400 năm, ông Châu văn vương suy diễn Tiên thiên bát quái của ông Phục Hy thành Hậu thiên bát quái, sáng lấp 64 quẻ, cộng thêm các nhà thiên văn xem thiên sao, kết hợp âm dương, ngũ hành, kết hợp thời gian và không gian hình thành hệ thống sơ bộ của lý thuyết Kinh Dịch. Đến thời chiến quốc cách đây 2500, không tử cùng với 3000 học sinh biên soạn kinh điểm này hoàn hảo hơn, làm cho lý thuyết Kinh Dịch phát triển mạnh mẽ. Dựa trên cơ sở này, nhiều tiên sinh học giả sáng lập các thuât số xem phong thủy, như phái Hình Thế, phái Lý khí, phái Bát trạch, phải Lông Môn Bát Cục…, Còn xem quẻ như Văn vương 6 hào, Kỳ môn Độn Giáp, Mai hoa Dịch số…., xem mệnh có Thiết bản Thần số, Quả lảo Tinh Tôn, Tử vi Đẩu số… vv.
Ba dòng mệnh học
Thuật số bói toán mệnh người từ lúc khởi nguồn phát triển đến nay, sinh ra nhiều môn phái, chủ yếu có ba dòng lớn: Mãng phái (mù), Cổ Lộc Mệnh phái và Tử Bình phái. Dưới mỗi môn phái lớn đều có nhiều tiểu môn phái. Mãng phái ban đầu do ông Quỷ Cốc Tử thời Chiến Quốc (cách đây khoảng 2500 năm) sáng tạo, đến đời Hán, ông Đông Phương Sóc đã sửa sang thành một bộ môn chuyên dùng cho người mù bói toán đễ mưu sinh, và được các thầy mù tôn là tổ sư của phái này. Cổ Lộc Mệnh pháp do ông Lý Hư Trung thời Đường (cách đây khoảng 2200 năm) sáng lập, là ông tổ của phương pháp luận mệnh bằng ba trụ, lấy "Nạp Âm Ngũ Hành" của can chi năm sinh làm chủ thể, như "Giáp Tý Ất Sửu Hải Trung Kim" v.v., chỉ dùng thiên can địa chi của "năm, tháng, ngày" sinh để suy tính. Ông Lý Hư Trung đã sáng tạo ra phép Tam Trụ. Đến đầu đời Bắc Tống, một bậc tông sư mệnh lý đời đó là Từ Tử Bình (cách nay khoảng 1410 năm). Không hài lòng với sự giới hạn của phép Tam Trụ luận mệnh, trên cơ sở "năm, tháng, ngày" của ông Lý Hư Trung, ông đã có bước đột phá lịch sử khi thêm "giờ sinh" vào lá số, đồng thời bỏ Nạp Âm Ngũ Hành, chuyển sang dùng Chính Ngũ Hành, nhứ Giáp là dương mộc, Ất là âm Mộc, không còn lấy Nạp Âm của năm sinh làm chủ, mà thay vào đó dùng Chính Ngũ Hành của can chi dựa trên ngày sinh con người làm mệnh chủ để luận sinh khắc. Do học thuyết này luânh mệnh tương đối chuẩn, để tưởng nhớ công lao to lớn của người sáng lập, hậu nhân đã gọi môn tứ trụ này là "Thuật Tử Bình" hay "Tử Bình Bát Tự".

Nhật Chủ & hệ thống Thập Thần
Mệnh học của Tông sư Từ Tử Bình đã cải biến, lấy Nhật Chủ làm trung tâm. Thêm vào bố cục 10 Thần, tức bảy chữ còn lại ngoài Nhật can ra của lá số Bát tử Tứ trụ, dựa trên quan hệ Âm Dương Ngũ Hành của "sinh ta, ta sinh, khắc ta, ta khắc, đồng ta" để xác định hệ thống "Thập Thần" bao gồm: Tỉ Kiên, Kiếp Tài, Thực Thần, Thương Quan, Thiên Tài, Chính Tài, Thất Sát, Chính Quan, Thiên Ấn, Chính Ấn.
Dòng chảy sách kinh điển
Sau Tử Bình mệnh lý, qua các triều đại sau này đều có danh sư kế thừa, phát triển và bổ sung thêm thân sát vào cho Tử Bình mệnh lý. Ông Từ Đại Thăng đời Tống soạn bộ kinh điển《Uyên Hải Tử Bình》; Ông Trương Nam đời Minh soạn sách《Thần Phong Thông Khảo》; khai quốc công thần nhà Minh là ông Lưu Bá Ôn soạn sách 《Đích Thiên Tủy》; Tiến sĩ ông Thẩm Hiếu Chiêm thời Càn Long nhà Thanh soạn sách《Tử Bình Chân Thuyên》; Ông Dư Xuân Đài đời Thanh soạn sách《Cùng Thông Bảo Giám》, v.v.
